Tại thời khắc hoàng kim, hố Berkeley từng là nơi có trữ lượng đồng đứng thứ 6 thế giới. Trong 27 năm, khu mỏ này hoạt động đã cung cấp khoảng 320 triệu tấn quặng “đủ để phủ một lớp đồng dày 10cm trên đường cao tốc 4 làn xe từ Butte đến thành phố Salt Lake và hơn 30 dặm nữa". Các mỏ đồng phát triển mạnh mẽ ở đây đã từng giúp cho Butte đạt được danh hiệu “ngọn đồi giàu có nhất thế giới”.
Bây giờ, mỏ đồng bỏ hoang này đã bị lấp đầy bởi gần 30 tỷ gallon tương đương với hơn 110 triệu mét khối nước có tính axit cao chứa nhiều chất độc hại như asen, cadimi, kẽm và axit sulfuric, đe dọa môi trường và nguồn cung cấp nước của khu vực gần đó . Mỏ đồng sung túc tại Butte đã vang danh từ đầu những năm 1870, dù rằng việc phát triển đã bị trì hoãn do quá trình vận chuyển quặng đến các lò gặp nhiều khó khăn. Thiếu các tuyến đường sắt cấp thiết và các nhà máy, quặng đồng tại Butte đã được gửi đến Swansea, xứ Wales để xử lý. Vào cuối năm 1880, tuyến đường sắt mới được hoàn thành nối Butte với Union Pacific ở Ogden, Utah. Tại thời điểm thế giới phát minh ra nguồn điện, Butte có toàn bộ các thành phần cơ sở hạ tầng cấp thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển lượng đồng cần thiết để hình thành mạng lưới điện cho các thành phố.
Từ năm 1892 cho đến năm 1903, các mỏ Anaconda là mỏ đồng sản xuất lớn nhất thế giới, chiếm 20% tổng sản lượng đồng của Mỹ. Trong gần 70 năm , việc phá hoang quặng đồng được thực hành bằng cách thả các trục vào lòng đất hoặc đào các đường hầm trong các ngọn đồi. Khi giá đồng tăng vọt, Butte cần nhiều kỹ thuật khai phá hiệu quả hơn, và vào năm 1955, khu vực Hố Berkeley đã áp dụng việc vỡ hoang quặng đồng theo hình thức mỏ lộ thiên. Trong năm trước nhất hoạt động, hố Berkeley chiết xuất 17.000 tấn quặng mỗi ngày với mức 0,75 % đồng. Điều này có tức thị với khoảng 1 tỷ tấn vật liệu được khai khẩn từ Hố Berkeley, đồng chiếm một phần ba. Các kim loại khác như bạc và vàng cũng được trích xuất từ đây. Nhưng sau đó, việc giá đồng liên tục giảm đã dẫn đến việc Berkeley phải đóng cửa hoạt động vào năm vào năm 1982.
Khi khai hoang quặng ở Butte, người ta sử dụng máy bơm để loại bỏ nước trên bề mặt cũng như nước ngầm trong mỏ. Khi quá trình phá hoang mỏ và bơm hút nước bị dừng lại, hố Berkeley bắt đầu ngập nước với tốc độ khoảng 0,3 mét mỗi tháng. Và cho đến hôm nay, khu vực ngập nước này sâu khoảng 270 mét. Khu vực này đã đặt ra một vấn đề môi trường nghiêm trọng vì nước với oxy hòa tan cho phép các khoáng vật như pyrit và sulfide trong đá quặng có sẵn tại đây phân hủy và phóng thích axit. Theo ước lượng vào khoảng năm 2020, khi mực nước hố chạm đến mốc của mực nước ngầm tự nhiên, nước trong hố sẽ đảo ngược dòng chảy và tiến vào các dòng nước ngầm tại khu vực lân cận làm ô nhiễm vùng đầu nguồn của sông Clark Fork. Hình ảnh có thật về thảm họa này đã xảy ra đến năm 1955, khi một đàn ngỗng tuyết đổ bộ vào Hố Berkeley và chí ít 342 con trong số chúng đã bị giết chết bởi chất độc trong nước ở đây.
Nhưng cũng cùng vào năm 1955, một nhà hóa học nghiên cứu các thành phần nước của hố chất độc này đã phát hiện ra một loại tảo đơn bào mạnh mẽ mang tên Euglena mutabilis phát triển mạnh trong môi trường chất thải độc hại của Hố Berkeley. Trong vài năm sau đó, hơn 40 loài sinh vật khác nhau được phát ngày nay khu vực này. Việc chống chọi ác liệt để có được nguồn sống ít oi đã khiến cho các loài ở đây sản sinh ra các chất có độc tính cao cải thiện khả năng sống sót. Một số hợp chất được tách chiết từ những sinh vật này được chứng minh là có thể chống lại các tế bào ung thư. Hiện, hố chất độc Berkeley là một địa điểm vấn khách du lịch. Ở đây có một bảo tàng nhỏ,cửa hàng lưu niệm và khu ngắm cảnh trên mặt nước.
Cao Anh Lâm |
Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014
Sự thật về Berkeley, hố chất độc đồ sộ tại Mỹ
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét